2-THƯ
PHÁP
Kỷ niệm về thư pháp đầu tiên là cha tôi, một người thợ tài hoa, viết trên
những tấm liễn.Trong lối viết của thư họa. Chữ nghĩa mang hình thể những bông
hoa, trái quả.. Đó là những tấm liễn hay hòanh phi, câu đối gì đó.
Tôi không còn nhớ nội dung những chữ ấy, vì lúc đó tôi còn quá nhỏ, khỏang 7, 8 tuổi …Một
thời gian dài về sau này, tôi lại thấy cha cặm cuội sưu tầm và viết những câu
Hán ngữ trích dẫn từ các sách cổ văn. Các bản văn này tôi hãy còn lưu trữ và
không đọc ra là bao nhiêu…
Một vài câu tôi còn nhớ là “nhân lai nhân khứ
phi trần ngọai, thì thị thì phi thệ thủy đông”…Thế gian chứa chất bao tâm sự. Nghĩ đến việc không thể chia xẻ những
gì mà người thân gánh chịu thêm một lần nặng trĩu hơn thế.
Hôm nay là ngày giỗ cha nhưng tôi không về
được. Buổi trưa không ngũ, tôi nằm với những trăn trở…Vài hình ảnh về cha làm
tôi nhớ mãi, đó là có một buổi chiều cha tôi đi làm về chở một cái thùng hồ với
cái xe đạp cũ kỹ.Khi đó là chạng vạng không còn nhận rõ mặt người. Sau này tôi
vẫn tự hỏi cha tôi đã suy nghĩ gì trong những trường hợp như vậy. Chắc chắn là
những suy nghĩ. Không phải một trạng thái
của vô tư hay siêu thóat gì…Một hình ảnh
nữa, có buổi trưa cha tôi làm ở nhà người khác. Buổi trưa hình như không có chỗ
nghĩ, cha tôi tựa lưng vào một bức tường và nghĩ qua trưa…Tôi hãy còn nhớ
nguyên tư thế ấy…
Một hình ảnh khác, cuối cùng về cha là buổi
cha chở tôi xuống Bồng Sơn, một thị trấn
nhỏ để vào Sài gòn. Vẫn trên chiếc xe đạp
cũ. Con đường đất ghồ ghề đi qua những quả đồi nhỏ vắng người.Tôi nhớ màu vàng
của đất sét và nỗi buồn nào đó, ngay lúc
này làm tâm trí tôi rười rượi.
Trước khi đón được xe, cha cùng tôi vào nhà
người bác ở cạnh đường quốc lộ. Người bác tặng cha tôi một chậu thủy tùng nhỏ.Tôi
còn nhớ nét mừng vui của cha tôi lúc ấy.Giờ này đây, tôi nhận ra cha tôi đã có
quá ít những niềm vui trong đời sống. Niềm vui ấy chắc hẳn xuất phát từ việc
cha tôi yêu thích cây cảnh. Một khía cạnh khác, việc được nhận những gì của đời
sống trao tặng với cha tôi là quá ít ỏi. Việc cha mẹ nhận được những gì đền đáp
của con cái thì…
Hình ảnh cuối cùng là đôi lúc trong giấc mơ
hay thiền quán tôi trông thấy vài ấn tượng của cha tôi trước khi mất. Một cái gì
đó tối tăm ập xuống, ngay sau đó là một quầng sáng khác lóe lên rực rỡ. Có một
tiếng nói, tôi nghĩ là tâm niệm cuối cùng của cha tôi lúc đó: không kịp mất!
Cha đã tâm niệm một điều gì mà chưa thể hòan thành? Là ngôi nhà phải chỉnh trang lại? Hay là tôi, lúc bây giờ
vẫn còn trong tình trạng lận đận? …
Hy vọng của cha tôi với con cái là những
gì? Và trong đời sống hiện tại của tôi có đáp ứng được một phần nào những hy
vọng ấy? …
Trở
lại thư pháp, ấn tượng mạnh mẽ nhất của tôi là một bức thư pháp của một nhà thư
pháp Nhật: Chế tự. Bức thư pháp được in trong một tạp chí của thư viện Tổng hợp.
Khi ấy, tôi hãy còn là sinh viên, việc
đọc sách
ở thư viện là giải
trí duy nhất cùng với việc uống caphê cùng bạn bè. Bức thư pháp ấn tượng và
cuốn hút. Tôi đã photo và sau đó mang về nhà đóng khung treo và thỉnh thỏang
thưởng ngọan…
Với một vài tài liệu ít ỏi tôi bắt đầu học
viết thư pháp. Đó là vào những năm 2000. Tuy nhiên, thực chất lúc đó chỉ là tập
viết Hán văn. Đến năm 2002 khi ra Huế học thuốc ở chùa Diệu Đế tôi có tham dự
một lớp học của chùa dành cho những người yêu thích Hán văn.Tôi học chừng 2
tháng, sau đó thì trở lại nhà.Cùng thời gian này, tôi mua được một cuốn sách dạy về thư pháp. Lần đầu tiên tôi
biết đến các tên tuổi như Vương Hy Chi, Vương Hiến Chi…Cảm thụ về thư pháp của
tôi cũng được nâng dần lên…Và tôi bắt đầu nhập môn thư pháp như một thứ giải
trí tinh thần…Việc tập luyện lúc này, và cả đến hiện giờ vẫn chỉ là nghiệp dư…
Từ những nguyên nhân sâu xa nào mà tôi lại
hứng thú với bộ môn này? Tính chất thiền hay nhu cầu thẩm mỹ ở dạng tiết chế có
ở trong tôi? Và sâu xa hơn nữa?...Một phát hiện khác đó là cuốn sách Nghệ thuật
Thiền mà tôi vừa đọc được trong những năm 2006.Trong ý tưởng thơ ca, hội họa và thư pháp là ba kho
tàng của một hành giả. Đến đây, yếu tố thẩm mỹ đã nâng đến mức tâm linh và mặc
nhiên nhu cầu tinh thần của tôi được đáp ứng.
Những buổi sáng sớm ở quê tôi thức dậy và lao
ngay xuống nhà bếp. Đun một ấm nước. Bên ngòai sương tháng chạp và sau đó là những ngày đầu xuân
còn bàng bạc.Trong ánh lửa, anh ta, một thanh niên gầy gò và mảnh khảnh cặm
cuội mài mực. Rồi thì, khi bình trà đã chế. Mực mài đã tạm đủ anh ta loay hoay
với những con
chữ…Viết ra một chữ ưng ý là một điều hứng thú. Một
niềm vui tức khắc. Nó không cần quá nhiều điều kiện…Mặt khác, sự tập trung
và tĩnh tâm khi viết là một hành động
giải trừ những phiền não và lo toan của đời sống.Trong quan điểm tổng thể, chắc
rằng đó không phải là cách trốn chạy!
Một vài sự kiện đầu năm ngóai làm tôi rơi
vào trạng thái tản thần. Những ngày đó tôi chứng nghiệm nhiều trạng thái lạ
trong giấc mơ và cả là đời thực. Có một tiếng nói nào đó hướng dẫn tôi thực
hiện một số điều. Khi rơi vào trạng thái tản thần tôi được hướng dẫn luyện viết
lại những bài thơ mà trước đây tôi từng
tập luyện. Trạng thái tản thần được khắc phục …Đó là những bài thơ Đường của
các tác giả Vương Duy, Lý Bạch, Bạch Cư Dị..Có một giấc mơ khác, tôi được nghe
tiếng nói của Vị Đạo sư nào đó…Tôi mường tượng là Đức Phật Văn Thù Sư Lợi. Bởi
vì thỉnh thỏang trong các giấc mơ tôi nhận
ra hình ảnh một Đức Phật ngồi trên sư tử xanh…Có một tâm niệm mà tôi chưa thực
hiện được là việc thỉnh một bức tượng hoặc hình ảnh của Đức Phật Văn Thù để chiêm
bái.Tiếng nói chỉ cho tôi biết cách giải trừ các nghiệp chướng với pháp môn
luyện viết mỗi ngày…Chỉ chừng ấy đủ cho tôi chuyên cần việc tập luyện thư pháp
như một phương tiện hành giả. Và sau cùng, thư pháp không còn là một phương
tiện mà như trạng thái nhất như. Điều mà một hành giả cần đạt đến…
Tuy nhiên, con người, là cái tôi đang viết
thì dễ chán nản, lạc lòng…Một giấc mơ
khác vẫn thường lặp lại là tôi trông thấy mình đào một cái giếng sâu và
phát hiện ra
một mạch nước
từ phía núi, tinh khiết và hiếm thấy. Những dòng nước chảy ra từ các kẻ của những
phiến đá xanh…Những giấc mơ này thường xảy ra vào lúc tôi tập luyện thư
pháp…Thư pháp, với tôi là như vậy?.. Một cuốn sách và giấc mơ khác nữa.Tình cờ tôi phát hiện ra một cuốn sách: Thư pháp linh
tự Đông phương.Trong đó có nhiều điều bổ ích. Và chung cục nhất đó là ý tưởng khi tâm thái
hành giả đạt đến tĩnh tâm thì mỗi chữ viết là một Đức Phật!...
Giấc mơ khác, tôi thường thấy mình trên con
đường về nhà phải đi qua một vị trí gần nhà với những dính mắc. Trong giấc mơ
là những luồng khí đen và các trạng thái sa hầm, trói buộc. Khi ấy, có ai đó
cho tôi một tấm vãi lớn. Trên đó có những chữ Hán. Với tấm vãi đó tôi thóat
khỏi trạng thái trói buộc và về được đến nhà…
Những giấc mơ, theo Bexxông, hoặc Frớt biểu
lộ một tầm mức sâu xa của hiện hữu. Nó cấu thành đời sống cá nhân. Và đối với
tôi, những giấc mơ là một nhân tố quan trọng. Về ý nghĩa nó không khác gì những
sự kiện thực. Và thực ra, những sự kiện thực chỉ là việc biểu lộ các giấc mơ trong
đầy đủ các chi tiết. Có thể thân xác hơn nhưng về cấu trúc thì duy nhất. Một số
giấc mơ có tính chất chỉ dẫn. Một số giấc mơ có tính chất tiên tri….Việc đi sâu
vào lý giải cần một quá trình khác…Như
vậy là, thư pháp đáp ứng những gì sâu xa thuộc về bản thể của tôi? Phương diện tâm linh
và thẩm mỹ. Nó là một lối ra của tâm
trí. Sự đáp ứng của văn chương dường như hãy còn xa với các yếu tố thẫm mỹ
trong tính chất tạo hình cụ thể. Nói như vậy là trong tính chất tương đối của
nhận
thức. Bởi vì qua
một cấu trúc văn bản người ta có thể nhận ra hình thể của nó. Sự so sánh phong
cảnh như một bài thơ Đường và ngược lại…Cũng tức rằng, trong văn chương có tính
chất thẫm mỹ của tạo hình nhưng với một
mức độ nào đó.Nó trừu tượng và gián tiếp. Trong khi, với thư pháp đó là sự biểu
lộ trực tiếp.
Nguồn mạch khác, sau khi đã viết ra vài ba
tác phẩm như sự bày tỏ cảm xúc và ý nghĩ, vốn kết thúc vào những năm 2004, tôi
đã dừng lại những đam mê trong sự việc. Cảm xúc hiện giờ nếu có là một sự thanh
thản mà tôi ít nhiều đạt đến và cần phải đạt đến. Các cảm xúc, sau một giai
đọan phát triển tâm linh, người ta nhận ra rằng nó vốn dĩ là những phản ứng
nhất thời của một nhận thức vốn chưa phải là sự ngộ. Hiển nhiên có những vần
thơ của thiền gia nhưng nó đã là một phương diện khác. Mặt khác, tôi nghĩ rằng
những gì là đỉnh cao của thơ ca tôi đã đạt đến. Một cái nhìn nội tại. Sau đó
thì người ta dừng lại và thay đổi quan tâm…Ở đây tôi đã ít nhiều ảnh hưởng của
Tagor (?).Nhà thơ, sau khi dừng việc sáng tác văn thơ đã chuyển qua việc vẽ.
Hơn 1000 bức họa thì phải.
Vương Duy, trong các thi phẩm của mình đạt
đến sự trong vắt của ngọai vật. Đỉnh cao này tôi chỉ là người chiêm ngưỡng.Một
ngọai lệ khác, Milapera, trong các thi phẩm của mình hòan tòan biểu thị
như một nhà tư tưởng…Thi ca lúc này đã
đồng nhất với các hình thái khác….Cái chính là sự đam mê văn chương của tôi
dường như đã dừng lại. Tuy nhiên, một cái gì đó thuộc về tinh thần thì vẫn còn
lại. Và nó đòi hỏi sự biểu lộ, một hình
thái…
Một phương diện khác nữa. Từ nhiều nguyên
cớ tôi đã dần rút khỏi các phát biểu, quan điểm. Nói chung một sự bày tỏ bản thân
với những nội dung, ý nghĩ nào đó… Nói
một cái gì đó, chung quy là sự biểu lộ
cá nhân vốn dĩ hạn hẹp. Trong khi thư pháp, là các nội dung đã sẵn. Người viết
không còn phải chịu trách nhiệm về nội dung của những chữ Mỹ, Đạo hay những gì
như vậy. Sự biểu lộ duy nhất của nhà thư pháp chỉ là đường nét, thần khí nếu
như nhà thư pháp đạt được…Tôi dần thích sự vắng mặt của bản ngã. Và thực ra thì
đang đi trên con đường giải trừ bản ngã… Sụ giải trừ này là tương đối. Vì rằng,
tại sao tôi lại chọn chữ Mỹ chứ không phải chữ Viên? Hành động lựa chọn bộc lộ
một vết tích bản ngã khác. Tuy nhiên, lần
này nó thóat dần những ràng buộc trực tiếp và siết chặt.Giữa hai cực, việc
tôi lớn tiếng khẳng định “isme!” hay nói nhỏ lại và im hẳn việc viết ra một chữ
MỸ là bước tiến,
sự hòa giải…
Một trong tứ bửu của thư pháp là con ấn.Những
năm 2000 tôi nhận được một khỏan tiền từ nước ngòai. Sư huynh Quảng Thiện tại Mỹ
có đọc qua thơ tôi, khi ấy còn là những tập bản thảo. Có những tâm giao nào đó.
Một trong những ngày cuối năm tôi nhận món quà bất ngờ. Sư huynh gửi tôi một số
tiền tiêu tết.Cho đến giờ tôi vẫn chưa biết mặt sư huynh như thế nào? Tôi lưu lại một ít tiền làm kỷ niệm bằng cách khắc một con ấn bằng đồng. Hiện diện cái ấn
trước mặt tôi là lời nhắc nhở rằng tôi đang
nằm trong một cộng đồng xa rộng. Nó vượt qua những khỏang cách điạ lý và hình
thức….
Viết những dòng như vậy, là soi chiếu bản
ngã, là giải trừ nó trên phương diện ngôn ngữ. Nếu như không thực
hiện việc giải
trừ này thì nó lẩn quất ở đâu đó. Không phải củng cố bản ngã mà là sự giải trừ
trong thực tướng và sâu xa sự việc… Phương
diện khác, cần phải làm một cái gì đó
trên phương diện chia xẻ với cuộc đời, cộng đồng…Một cái gì đó tạm gọi là ích
lợi trong tòan thể biểu thị của sự sống….
Như vậy là thư pháp!..
Đốt một ngọn nến nhỏ hơn là nguyền rủa bóng tối!
Tôi không có phản ứng nguyền rủa hay những gì như vậy. Tuy nhiên, một điều tệ hại
hơn là sự im lặng. Sự cự tuyệt…Vạch ra một nét chữ dẫu gì cũng hơn là gặm nhấm một nỗi buồn, sự chán nản… Muốn như vậy, trên phương diện đóng góp, cần
phải tập luyện hơn nữa. Trong khí chất
của tôi, có một cấu trúc là những gì đã
tham gia thì cần đạt đến mức độ cao nhất có thể…
Lạc
hà dữ cô vu tề phi.
Thu
thủy cộng trường thiên nhất sắc
Vương Bột
Ráng
chiều cò lẽ cùng bay
Nước
thu xanh biếc chung màu trời xanh.
Có một chữ Hà là dải mây đẹp buổi chiều. Cô
bé tên là H A…Đầu hôm, tôi biết thêm chữ
Hà trong ý nghĩa này. Trước đó tôi có biết qua nhưng không rõ nghĩa lắm…Đó là
giọt nước tràn ra của một cái chén đã
đầy nước.Cô bé vừa tốt nghiệp Đại học
Ngọai ngữ. Đề tài là Thư pháp. Như vậy là ngẫu nhiên tôi có một người cùng quan
tâm, chia xẻ và gợi hứng…
Việc tiếp xúc cô bé làm tôi xao động. Những
cái cười duyên dáng. Và dường như sau cái cười đó là như không, hồn nhiên,
trong vắt…Một cái gì đó bay bỗng còn hiện diện trong cuộc đời…Nói chuyện với
một cô gái về Vương Hy Chi thực là một điều không dễ có…Là nhân duyên, gợi hứng
hay một cái gì đó làm chàng ta xao động và xem lại…
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét