3- TÂM THỨC
Ta hình dung có một ngôi nhà kính nào đó. Lọ hoa, cái bàn,
các căn phòng, những con người đang sinh hoạt, kể cả những vách kính
hợp thành ngôi nhà. Nếu như cố định ý niệm, ngôi nhà đang là một
hiện tượng động. Nó dịch chuyển theo việc dời chuyển các đồ vật,
những người đi lại, suy nghĩ trong nó. Giả định không có đồ vật nào
bị ném ra ngoài cửa sổ, những con người đi ra bên ngoài. Với điều
kiện này ngôi nhà là một không gian khép kín. Nó bao gồm toàn thể
những hiện tượng ý thức tâm lý, sinh hoạt xã hội của con người như thực tế đời
sống. Giả định đang có một ý thức quan sát toàn thể những hiện
tượng và tìm cách mô tả chúng. Người quan sát ấy là chúng ta, những
người đang theo dõi diễn giải này.
Ta có thể so sánh rằng ngôi nhà là thế giới, tức những thế
giới, và cũng là vũ trụ đang xảy ra hiện tượng ý thức. Những tấm
kính là ý thức ở giới hạn riêng biệt. Nếu như toàn thể những tấm
kính vỡ đi, vũ trụ ở trạng thái đồng nhất. Tại đó, những đồ vật,
con vật, con người trong ngôi nhà là
duy nhất và đồng nhất. Thực tế là những tấm kính, tức ý thức ở
những giới hạn khác nhau đang tồn tại. Qua những tấm kính ấy vũ trụ
được phản chiếu theo nhiều cách khác nhau, và không bao giờ giống hay
chập nhau. Những phản ảnh đó là như nhau nếu nói về sự phản ảnh
“chính xác” vũ trụ ở trạng thái đồng nhất. Ta thấy rằng, trong mỗi
tấm kính có một vũ trụ hình ảnh. Vũ trụ đó tồn tại trên nó.Nếu
như nhấc tấm kính, cái còn lại là một khoảng trống. Vũ trụ hình
ảnh đó đã mất đi, hay cũng có thể nói một phân tán của vũ trụ
được thu hồi về trạng thái đồng nhất. Trong ngôn ngữ hiện thể và
chứng thể, ta nói rằng tấm kính là một chứng thể tương ứng một
hiện thể cùng nó. Tương quan này là duy nhất, và trong vũ trụ có
nhiều tương quan như thế. Đó là những thế giới được thành lập trên
phương diện vật lý của nó.
Trong quan niệm và ngôn ngữ thông lệ, mỗi tấm kính là cá nhân
nào đó. Nếu như tấm kính chỉ là khả năng nhận thức thuần túy, chưa
có hiện tượng cá nhân ở đó. Tuy nhiên, trên thực tế là những tấm
kính được phân ô, đánh dấu tráng màu khác nhau. Điều ấy tương ứng
mỗi tâm thức cá nhân nhất định. Trong ngôn ngữ khác, sự đánh dấu,
tráng màu là thế giới ý niệm mà cá nhân có được. Xác định cái
bàn, lọ hoa, con người xảy ra trong thế giới này và nằm trên tấm
kính. Ta không thể đồng nhất nó,
tức những ý niệm “cái bàn”, ”lọ hoa “ nào đó trong vũ trụ ở trạng
thái đồng nhất. Tương tự rằng, ta có thể suy nghĩ bất kỳ về người
đối diện nhưng không thể đồng nhất ý nghĩ với người ấy, từ hình
dáng đến suy nghĩ bên trong. Ta thấy rằng, sự đồng nhất chỉ thể xảy
ra khi hai người không suy nghĩ. Điều ấy, nằm trong quan sát thứ ba nào
đó. Câu hỏi đặt ra là: từ đâu những tấm kính kia có sự đánh dấu và
tráng màu?
Ta nhận ra, trước hết là khả năng ý thức ở đó. Bằng khả năng,
nó tiếp nhận, lưu trữ những gì giáo dục, đời sống xã hội truyền
thụ. Từ nhận thức đây là cái bàn, kia là lọ hoa, tức những đối
tượng thường tiếp xúc cho đến khoa học, triết học, tôn giáo. Sự truyền thụ và
tiếp nhận này là trực tiếp. Nó tạo thành tâm thức cá nhân mà không
bị đặt trong hệ thống xác định bên ngoài, tức ý thức thứ ba nào
đó. Mặt trời với ý thức này là
thần lửa, với ý thức kia là ngôi sao, với một ý thức khác
nữa là tập hợp các nguyên tử ở trạng thái khí… Trên thực tế, vị
thần lửa là tồn tại trong đầu óc những đứa trẻ thế kỷ hai mươi.
Không cần phải chỉ rằng nó chỉ có trong quan niệm con người nguyên
thủy. Cái gọi thế kỷ hai mươi thực chất lại là hệ quy chiếu của ý thức
thứ ba nào đó. Tiếp theo, qua giáo dục đứa trẻ tiếp nhận rằng mặt
trời là tập hợp nguyên tử như trong lý thuyết vật lý. Ta thấy rằng,
sự xác thực của mỗi thế giới bằng khả năng nhận thức trong thế
giới đó. Không thể so sánh hai hoặc nhiều thế giới lẫn nhau để quyết
định sự xác thực giữa chúng và thực
tại. So sánh ngôi sao là thực hơn thần lửa, hoặc ngược lại là
điều vô nghĩa. Ở đây có thể biện
luận rằng khi xác định ngôi sao, ý thức có thể giải thích về hóa
học, vật lý, các quy luật chuyển động… từ ấy cho nó xác thực hơn so
với việc xem mặt trời là thần lửa. Tuy nhiên, ta có thể xác định
tương tự về thần lửa bằng câu chuyện thần thoại nào đó. Trong ấy,
dĩ nhiên thần lửa sẽ có được kết cấu chặt chẽ theo kết cấu chuyện.
Ta thấy, hai hệ thống này là như nhau, theo ý nghĩa đều là những ý
niệm về thực tại. Nó chỉ nằm trong đầu óc một hay nhiều người nào
đó. Trong cái nhìn này, cái gọi mặt trời, thần lửa hình thành theo
sự phân biệt, cô lập đối tượng với những đối tượng còn lại. Nó là
kết quả trực tiếp của một ý thức nào đó. Hiển nhiên, ở trạng thái
đồng nhất không có bất kỳ phân biệt nào.
Cái nhìn tổng quan và nguyên thủy xác định rằng, không có cái
gì là lọ hoa, cái bàn, con người trong căn nhà ngoài tình trạng đồng
nhất. Cái nhìn ấy tương ứng khi những tấm kính cấu tạo hình cầu và
không có sự đánh dấu, tráng màu bất kỳ trong đó. Ta hình dung người
rơi vào một thế giới xa lạ. Ở đó không có cái gì tương tự những
đối tượng con người từng tiếp xúc. Thực tế điều này vẫn thường xảy
ra khi ý thức quan sát các đối tượng tồn tại trong căn nhà nhưng không
có bất kỳ tiền niệm về nó. Tức rằng, ta từ bỏ toàn thể ký ức về
thế giới, tương ứng việc xóa đi các mảng màu trên tấm kính. Trong trạng thái này, cái
gọi nội dung đối tượng bị xóa bỏ, hoặc chưa tạo thành. Hiển nhiên,
cùng với đó các phân chia giới hạn giữa những đối tượng cũng không
tồn tại. Ta được sự xác định là tính chất vô biên, vô lượng của
hiện tượng. Trong ngôn ngữ và ý niệm cũ con người liên tục với lọ
hoa, lọ hoa liên tục với gian phòng, gian phòng liên tục với ngôi
nhà…Hiển nhiên, không có cái gọi nguồn gốc, sống chết, sinh trưởng
hoặc hủy diệt. Ý thức đang nhận được một thực tại ứ đặc. Chú ý
rằng, cái nhìn này có thể xảy ra
một cách vô điều kiện trong mỗi ý thức nào đó. Trạng thái này ít
xảy ra. Do vậy, sự phát hiện thế giới như là nó là đặc biệt trong
nhìn nhận thế giới. Trong khi nhìn
nhận thế giới như là nó, ta đang ở vị trí bất kỳ trên mặt kính. Kề
bên đó là những tấm kính, tức các ý thức ở những giới hạn riêng
biệt. Như vậy, việc sử dụng các ý niệm “lọ hoa”, ”cái bàn”, do qua
các ý thức giới hạn này. Bản thân mặt kính không có sự đánh dấu,
tráng màu trên đó. Những đánh dấu, mảng màu xuất hiện trên nó là
qua các tấm kính trước. Tức rằng, ta đang là ý thức của các ý
thức.Những giới hạn được nêu lên bằng vào nhìn nhận của những ý
thức giới hạn này. Nó không phải là kết quả trực tiếp của ý thức
tổng quan trong nhìn nhận thực tại.
Nếu như phân tích, trên mỗi tấm kính, có thể xem như tập hợp
các điểm, tức đối tượng, và những đoạn thẳng nối liền các điểm
đó, tức các liên hệ. Nội dung thế giới, từng phần hay toàn thể, xác
định theo các đối tượng và những liên hệ như thế. Ví dụ, sự xác
định gia đình bằng thành viên, và quan hệ cha con, anh em… Lọ hoa đặt
trên bàn, bên một cuốn sách… là xác định về bức tranh tĩnh vật nào
đó. Đối tượng và liên hệ có ý nghĩa như nhau trong sự xác định các
hiện tượng. Nói đến đối tượng, tức nó đang nằm trong một hoặc những
liên hệ nào đó. Ngược lại, không có một liên hệ trừu tượng, tức
không có các đối tượng trong nó. Ta lưu ý rằng, một đối tượng có
thể nằm trong nhiều liên hệ. Nội dung, ý nghĩa của nó xác định theo
những liên hệ này. Đối với người Anh, Ấn Độ là nước thuộc địa trong
lịch sử. Với một người Thái, đó là đất thánh.
Có thể thấy, cả đối tượng và liên hệ là sự tàng trữ của ý
thức, nó hình thành nên mỗi tâm thức cụ thể. Bản thân nó, xuất phát
từ không, hình thành trong giao tiếp xã hội, tức tương giao với những
ý thức khác, đi đến sự ổn định tương đối, sau đó quyết định chính
đời sống cá nhân, kể cả những biểu hiện vật lý. Chẳng hạn ý thức
hiện tượng là một tai nạn, cá nhân nào đó sẽ thực hiện việc cứu
giúp, tức ý thức đã điều động thể xác của nó. Vẫn trước hiện
tượng, một ý thức khác không xem như một tai nạn, hiện tượng đã chấm
dứt ở đó. Chú ý rằng, ở trường hợp đầu chỉ là sự chấm dứt nội
dung ”tai nạn” của hiện tượng. Sau đó ý thức xác định nội dung khác
là “được cứu thoát.” Nó không phải là sự chấm dứt chính hiện
tượng.
Tính chất cá nhân không xác định khi ở đó không có sự tạo
thành tâm thức, hoặc sự biến dịch liên tục của nó. Trên từng thời
điểm nó là cái phân biệt người này, người kia từ trong ý nghĩ chỉ
cá nhân biết được đến biểu hiện ra ngôn ngữ, hành động giao tiếp xã
hội. Trước một hiện tượng, nếu như hai “cá nhân” có cùng suy nghĩ, ta
được một xác định là ý nghĩ chung đó, ở thời điểm hiện tại. Trên
thông lệ, thường có xác định như hai con người. Thực chất khi ấy có sự
lặp lại xác định. Nó gắn liền hình ảnh cố định của ý thức về đối
tượng từ những trạng thái trước đó. Dĩ nhiên, nó chỉ nằm trong đầu
óc người đang xác định, tức cá nhân thứ ba nào đó. Sự xác định như
thế là đưa ra một nội dung giả cho thế giới ở hiện tại.
Ta trình bày chi tiết hơn về hiện tượng. Trên thông lệ, mọi xác
định của ý thức về thế giới là gắn liền với những bộ khung nào
đó: những hiểu biết thường nhật, các quan niệm về đời sống, các quy
luật về tự nhiên, xã hội… Mèo là con vật có ích. Người hàng xóm
thì lương thiện. Đalămbe là người trầm tĩnh. Bộ khung này có những
biến động đủ lấp với những hiện tượng trong giới hạn nhất định. Sự
kích động của Đalămbe ở trường hợp
nào đó là có thể bỏ qua so với bộ khung trầm tĩnh mà nhận thức
xác định về hiện tượng. Một khi nhận thức hoàn thành về đối tượng,
chẳng hạn một cá nhân, tồn tại thực tế của nó đã là vắng mặt. Ở
đó hiện tượng đã bị tách ly khỏi thực tại, tình trạng đồng nhất
bị phá vỡ. Thay vào đó, ý thức đồng hóa nó với một hình ảnh, ý
niệm nào đó. Có thể chỉ rằng, niềm tin vào cá nhân là một sự kiện như thế. Niềm tin người hàng xóm lương
thiện quy định ngầm trong nó tính chất lương thiện của người hàng
xóm. Ở đó không thể có sự việc mâu thuẫn với điều niềm tin vừa
thiết lập. Một khi người hàng xóm trộm cắp, hiển nhiên bộ khung đã bị sụp đổ. Ý thức khi đó
không xem rằng nó cung cấp cho đối tượng nội dung giả tạo, tức không
có cái gì là “lương thiện” ở người hàng xóm. Thay vì thế, nó kết
luận người hàng xóm đã trở nên “hư đốn”.
Các xác định của ý thức trong thế giới, và là tạo thành thế
giới bằng toàn thể đời sống tinh thần nhân loại: truyền thống gia
đình, phong tục tập quán, các nền văn hóa… Nó tựu trung ở tâm thức
cá nhân với những tỷ lệ, liên hệ khác nhau. Và cũng thế, sự triển
khai tâm thức đặt trước những hoàn cảnh giới hạn riêng biệt. Bên
ngoài tâm thức cá nhân không thể tìm thấy cái gì là truyền thống văn
hóa, bản sắc dân tộc như một hiện tượng độc lập. Cũng thể nói rằng
ký ức nhân loại, và chính là nhân loại đang tàng trữ qua vô số tâm
thức. Tức rằng, đang thể hiện qua vô số con người như cách nhìn nhận
thông lệ. Ý thức tiếp nhận những nội dung đó máy móc qua giáo dục, truyền thụ,
hoặc có suy xét theo từng quan điểm riêng biệt. Nói chung, có những
quá trình tâm lý ở đó.
Ta xem xét hiện tượng ở một hình thức khác: cái gọi chủ thể
và khách thể. Ý thức xác định đối tượng của nó: đây là cái bàn,
kia là lọ hoa, phía sau là một người đi lại. Tập hợp các đối tượng
này được gọi là khách thể. Trong nhìn nhận thông thường, tồn tại
của nó độc lập với ý thức và có sẵn. Tôi đang quan sát ngôi nhà: bàn
ghế, vật nuôi, con người… Khi tôi ra đi những đối tượng đó còn lại.
Một trong những đối tượng luôn hiện trước nó, là thể xác, ý thức
xác định cái gọi là chủ thể. Ta thấy rằng, cái gọi chủ thể và
khách thể đều là những ý niệm của ý thức trước thực tại. Cái tôi,
người khác, thế giới bên ngoài thực chất là sự xác định đồng thời.
Trên thực tế, chủ thể được khẳng định bằng vào tâm thức cố định.
Tôi từng thấy điều ấy. Tôi đã kinh nghiệm. Tôi biết trước hiện tượng
theo quy luật… Ta có thể thấy rằng, cái tôi thực chất chỉ là một ý
niệm trống rỗng?
Ta có minh họa sau. Vẽ một đoạn thẳng và đánh dấu hai đầu của
nó. Một khi xóa đoạn thẳng hai vị trí này mất đi. Nó không bao giờ
là những xác định trước trên trang giấy, tức biểu trưng thực tại.
Xác định hai vị trí được hình thành qua chính cách vẽ. Nhận thức
thông thường bỏ qua điều này,cùng việc ưu tiên một trong hai vị trí.
Chẳng hạn ý thức ghi nhận màu xanh lá cây và quy định thể tính này
cho đối tượng. Thực tế, qua một xác định khác, chẳng hạn người mang
kính màu, màu xanh chuyển thành màu đỏ hoặc màu tím, trắng. Với
người mù, màu xanh là màu đen, chiếc lá chưa được nhìn thấy. Lưu ý
rằng, trong trình bày này ta đã sử dụng ngôn ngữ của người sáng mắt
cho người mù. Thực chất với anh ta
ý niệm màu đen, chiếc lá chưa từng có, nếu sự mù xảy ra khi sinh.
Trường hợp người đó bị mù khi lớn tuổi, sự mất đi các ý niệm hình
dáng, màu sắc chỉ là sự mất đi các ý niệm của ý thức. Tuy nhiên
trên thực tế khi ấy, sự ưu tiên cho chủ thể xảy ra. Tâm thức tàng trữ
những hình ảnh, màu sắc từng có, từ đó dẫn đến các trạng thái
tình cảm. Căn nguyên, ý thức không thể tương tục các ý niệm của nó?
Kết thúc phần này, ta xem xét một sự kiện tâm lý vẫn được
gắn cho ý nghĩa nghiêm trọng, cái gọi hư vô. Sau cái chết của người
thân, cá nhân nào đó cảm thấy hư vô. Trước một di tích, đối chiếu
quá khứ và hiện tại đã hoàn toàn thay đổi, con người cảm thấy hư
vô. Nhận thức về lịch sử, là chiến thắng, sụp đổ, chiến tranh và
xây dựng… Kết cục toàn thể những điều ấy con người nói hư vô. Ta
thấy hư vô được xác định theo hướng thoát ly các điều kiện chủ quan,
tức người chứng nghiệm nó. Về phía khách thể, ý nghĩa hư vô được
ban bố cho toàn thể hiện tượng. Nói cách khác, hư vô vượt trên kinh
nghiệm giới hạn theo các đối tượng riêng lẻ, vốn không được xem như
chân lý, bản thể.
Một khi trạng thái hư vô nảy sinh, nó vượt ngoài đời sống tình
cảm thường nhật cùng các can thiệp lý tính. Kết quả những hội tụ
ấy, hư vô được xem như căn tảng thế giới, hoặc quy đồng về nó. Ta
thấy, bất kể mọi con đường dẫn đến trạng thái, hư vô chỉ là kết
quả của tâm thức. Có thể chỉ rằng, cái gọi hư vô xuất hiện từ các
điều kiện nhận thức có sự bất liên tục trong một nhu cầu xác định.
Cái chết người thân không thể dẫn đến hư vô nếu người còn lại thường
xuyên tưởng nghĩ đến nó, ở trước đó. Nghĩa rằng, sự vắng mặt của
người thân được chuẩn bị trước và thay bằng hình ảnh nào đó. Hoặc
nữa ý thức có thể có ý niệm hư vô nếu nhìn nhận tồn tại người
mất ở thể trạng khác, theo các dạng thức luân hồi? Chú ý rằng, ta
không xem xét các nhìn nhận này như những sự kiện xác thực có thể
kiểm chứng trong giới hạn tri kiến. Điều quan tâm là theo những nhìn
nhận đó dẫn đến những xác định tâm lý. Lại một cách nhìn nhận
khác, sự kiện hư vô gắn liền cái mất của người thân. Nếu như ý thức
nhìn nhận rằng, cái gọi người thân kia là ở trong nó. Rằng, không có
người anh hoặc em nào đó thực hữu, duy sự ban bố nội dung cho hiện
tượng từ chính nó? Cũng nghĩa rằng, cái chết ấy có thể được ý
thức thực hiện trên từng khoảnh khắc như trong nhận thức thế giới như
là nó?
Có thể nói sự bất liên tục của nhận thức, cùng nhu cầu xác
định trong tâm thức là căn tảng hư vô. Cảm nghiệm giống nhau về nó,
bất kể mọi chủ thể, không đồng nghĩa hư vô ly khai những tâm thức
riêng biệt. Theo ý niệm thông thường, cái chết không thể tồn tại độc
lập với đời sống. Nếu như có những cuộc sống khác nhau thì cũng sẽ có những cái chết khác nhau. Do vậy
không thể đồng nhất cái chết cho mọi trường hợp. Tương tự, hư vô ở
trường hợp này là sự mất của người thân. Ở trường hợp khác là cảm
nghiệm sự trôi qua của tất cả… Nó chỉ hình thành qua những từng trãi
tâm lý, những nhận thức giới hạn ở trước đó. Tâm thức đứa trẻ có
thể chứng nghiệm hoặc tiếp nhận cái gọi hư vô? Kể cả khi tâm thức
ấy dung nạp kiến thức, kinh nghiệm nhưng không có sự đồng hóa,tức là
một tâm thái hồn nhiên, có thể nào nó biết đến cái gọi hư vô?
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét