Ý THỨC, THẾ GIỚI VÀ THỰC TẠI
1- DIỄN ĐẠT
Trước mắt người đọc, đang là những
dòng chữ trong một cuốn sách. Đã và đang xảy ra một tiến trình nhận
thức qua các ý niệm. Một cách tương đối, có thể xem khởi điểm tiến
trình ở sự kiện người đọc quan sát cuốn sách: nhan đề, tác giả,
nhà xuất bản, ngày tháng cuốn sách ra đời. Người đọc đang là chủ
thể hiện tượng, từ quan sát bên ngoài đến việc theo dõi những dòng
chữ trên từng trang sách. Tính chất chủ thể còn những khả năng và
biểu hiện ngược lại. Chẳng hạn vì lý do nào đó chấm dứt việc đọc,
phủ nhận cuốn sách bằng vứt bỏ hoặc thiêu hủy.
Ta cùng xác định rằng cuốn sách là
một hình thức, mang tính vật thể biểu thị nội dung, có tính chất vô
hình trừu tượng ở ngoài nó. Tính hình thức ở chỗ vẫn nội dung ấy
có thể biểu lộ qua âm thanh chẳng hạn. Cuốn sách được thay bằng băng
từ, thị giác được thay bằng thính giác. Về cụ thể, các ý niệm từ
biểu hiện vật thể là chữ viết đã chuyển sang lời nói. Ngay tại đây,
xác định rằng bản thân ý niệm nằm trong đầu óc người đọc hay ngày
viết. Theo quy ước giữa hai người, còn thể biểu diễn nó qua những hình
thức khác. Chẳng hạn theo màu sắc, biểu thị ý niệm mặt trời là
màu đen, ý niệm hình thức là màu vàng, ý niệm ý niệm là màu
trắng... Ta được một hình thức mới có khả năng diễn đạt kém hoặc
hơn so với hình thức đang có là ngôn từ. Ở đây, có thể nhận xét
rằng hình thức ngày càng trừu tượng so với tri kiến, khả năng diễn
đạt càng lớn và ngược lại. Bằng khả năng phân biệt màu sắc, ta chỉ
thể diễn đạt bảy ý niệm từng có qua bảy màu. Nhận xét khác, trong
quan hệ xã hội từ hệ hình thức này đến hệ hình thức khác cần
những chuyển tiếp nhất định. Ta có thể xây dựng một hệ ký hiệu mới
để biểu thị tất cả những ý niệm hiện có. Tuy nhiên chỉ mình ta
biết được. Để người khác có thể hiểu và sử dụng nó, ta phải có
những hướng dẫn từ chính các ký hiệu cũ.
Ta có những triển khai sau. Từ một nội
dung có thể tồn tại những hình thức khác nhau. Khi nội dung là một
ý tưởng, hệ hình thức là cuốn sách, các chương mục, những dòng chữ
trên trang giấy… Hệ hình thức khác có thể là là băng từ ghi âm, máy
thu và máy phát. Do tính hình thức của những vật thể, không thể
đồng nhất bản thân ý tưởng với nó, tức băng từ hoặc cuốn sách. Trên
phương diện khác, chỉ trong giới hạn trị kiến ta mới có kết luận ý
tưởng đã mất đi khi tất cả những cuốn sách bị mối ăn, hoặc tất cả
băng từ bị mất tích. Có thể nhận ra điều này qua biểu hiện âm thanh.
Một khi băng từ đã qua máy phát, lời nói đã tồn tại trong không gian.
Nếu có một thiết bị thích ứng, ta có thể thu lại chính lời nói
đó, tức nắm bắt ý tưởng. Tương tự trong điều ngược lại, không có
việc nảy sinh ý tưởng từ chân không. Duy những giới hạn tri kiến nên
ta không thể chộp bắt nó trong bất kỳ điều kiện.
Sự xác định này nhằm minh xác sự
thật rằng, những gì nhận thức kinh nghiệm đều mang tính hiện tượng.
Không thể đồng nhất cầu vồng với đám mây, mặt trời, người quan
sát. Tương
tự vậy, không thể kết luận có một thể tính, bản chất chua nào đó
ở trái cam. Sâu xa hơn, không thể quy đồng thể tính với mục đích của
Đấng Sáng tạo. Hoặc đơn giản hơn, quy về cái gọi một bản chất tự
nhiên nào đó. Điều đang trình bày cũng không nhằm phủ nhận hay thừa
nhận một triết thuyết duy tâm hoặc duy thức. Mọi kiểu duy nếu có là
nảy sinh từ ý thức người đọc áp đặt cho các diễn giải vì các tập
quán ý thức. Hoặc nữa, nhằm phủ nhận qua những gán ghép, đồng hóa
nó với những gì người đọc từng quen biết.
Xác định giới hạn tri kiến dẫn đến
những khả năng từng có trong kinh nghiệm nhận thức như sau. Sự phủ
nhận triệt để nó trên phương diện chân lý, đạo đức, đời sống xã
hội. Khi ấy, nó từ bỏ sự chủ quan theo các giới hạn tri kiến,vốn
mang tính cá biệt, để rơi vào sự chủ quan khác: không tri kiến. Điều
này tương tự người nhắm mắt để khẳng định không có hiện tượng cầu
vồng. Ta cần nhận ra ngộ nhận có dáng dấp minh triết này trong nhận
thức và cả là đời sống. Vẫn có điều, sự từ bỏ cá thể không dẫn
đến toàn thể mà chỉ là sự phủ nhận toàn thể và chính cá thể ấy.
Tu sĩ không đến với Thiên Chúa, hoặc Đức Phật mà chỉ làm mất đi một
năng lượng sống. Minh họa này cũng chỉ là một kinh nghiệm. Ta không
đồng nhất một với tất cả tu sĩ, để từ đó phê phán tôn giáo theo
những mục đích riêng.
Một khả năng khác, xác định giới hạn
tri kiến cùng với xác định sự vô hạn, bất định của thực tại. Từ
ấy, dẫn đến khẳng định tính chủ thể theo từng giới hạn. Chân lý
được đồng nhất với chủ thể. Có thể nói khác, chân lý đã chia đều
cho bất kỳ cảm giác, tri giác, cá thể. Cầu vồng được chỉ cho người
quan sát, đám mây, mặt trời. Trong đời sống xã hội, luân lý, đạo đức
bị hạ bệ do sự trừu tượng, vô danh của đám đông. Cá thể bỏ qua
những phê phán, đánh giá từ bên ngoài bởi xác định chân lý, sự thật bằng những nhu cầu
nội tại, bản thể của nó. Ta vẫn không phê phán những điều này theo
quan điểm trình bày. Tức rằng vấn đề đúng, sai không được đặt ra ở
đây. Cần phân biệt điều này với khẳng định tất cả đều đúng hoặc
tất cả đều sai. Hoặc nữa là những khẳng định vừa đúng vừa sai. Nói
cách khác, ta không đặt vấn đề chân lý.
Cơ sở điều này là sự xác thực của
sự việc ở chỗ nó đã, hoặc đang xảy ra. Xem nhận thức là một sự
việc, mọi khẳng định đúng sai đã
là sự việc của ý thức khác hướng về nó. Cũng thể xảy ra trường hợp do ý thức vừa thực hiện tiến trình nhận thức xét
lại nó. Sự việc này có sau và độc lập so với tiến trình nhận
thức. Cũng tức rằng, cái gọi đúng hoặc sai nằm trên mặt bằng khác
so với cái đang, hoặc đã xảy ra, nếu có thể hình dung như thế. Từ
khác biệt này không thể có những quan hệ bất kỳ giữa chúng.
Trở lại, tồn tại các hệ hình thức là
thiết yếu trong quan hệ xã hội. Người này chỉ thể bày tỏ cảm xúc,
ý tưởng xem như một nội dung, cho người khác bằng cử chỉ, lời nói, chữ
viết, tức các hình thức. Không có sự biểu lộ nội dung bằng chính
nó không qua một hình thức trung gian nào đó. Tiếp đó, xem xét nội
dung là toàn thể kinh nghiệm nhận thức, một trong những hệ hình thức
của nó là ngôn từ. Ta có thể diễn đạt tất cả kinh nghiệm, từ những
định luật khoa học đến cảm xúc thơ ca qua số ngôn từ hiện có. Điều
ngược lại và được nhấn mạnh ở đây, với ngôn từ hiện có chỉ thể
diễn đạt những kinh nghiệm từng có. Kinh nghiệm mới sẽ rơi vào tình
thế là không có ngôn từ diễn đạt. Nhắc rằng, có thể xây dựng hệ
hình thức mới nào đó để biểu thị, tuy nhiên điều này chỉ có ý nghĩa cá nhân. Trong quan hệ
xã hội, phải có sự chuyển tiếp từ hệ hình thức cũ sang hệ hình
thức mới. Điều này như đã xác định từ đầu và thêm những khó khăn
cần lưu ý sau.
Khi kinh nghiệm mới có tính chất phủ
nhận toàn thể những kinh nghiệm trước đó, việc sử dụng ngôn từ, vốn
là một trong những kinh nghiệm cũ, để diễn đạt, chỉ như một nghịch
lý. Minh họa rằng, ta chỉ thể vét cạn nước từ hồ này sang hồ khác,
nhưng không thể vét cạn nước từ chính hồ ấy. Ở đây ta đã ngầm hiểu
rằng, có thể làm cạn bộ phận trong hồ nước bằng cách lập ra vách
ngăn, chuyển nước sang bộ phận còn lại. Theo chiều hướng khác, có
thể đông kết nước thành đá để giảm chiều cao hồ nước hiện có, tuy
nhiên là không thể giảm đến đáy hồ. Qua minh họa, ta đã thừa nhận sự
vi phạm không thể tránh khỏi của diễn đạt. Lại chú ý, vẫn kinh
nghiệm phủ nhận trong im lặng là trường hợp khác, nằm ngoài hiện
tượng cuốn sách.
Giờ đây, ta xem xét tác giả nói chung,
tác giả nói riêng cho cuốn sách này. Kinh nghiệm cho thấy tồn tại ý
niệm người viết sẽ là cản trở cho tiến trình nhận thức của người
đọc. Sự tồn tại của ý niệm này do chính tập quán nhận thức. Ở đó
đồng hóa tác phẩm vào tác giả, cuốn sách với người viết, bức tranh
và họa sĩ, nhạc phẩm với nhạc sĩ… Khi ấy, việc xác định trực
tiếp, nguyên vẹn tác phẩm trở thành gián tiếp, bị chia sẻ theo những
kinh nghiệm của người đọc về tác giả. Ý thức có thể tiện lợi trong
cách thế ấy. Tuy nhiên tính chất trực tiếp, nguyên vẹn đã bị mất đi.
Trên phương diện khác, ta nhận ra tính
chất máy móc của ý thức trong việc xác định tác giả nơi tác phẩm.
Điều này chỉ là sự định vị hình thức, vật thể và giới hạn. Hoàn
toàn tương tự việc khẳng định bản nhạc nằm trên khuôn nhạc, trong băng
từ, đôi tai người nghe. Ta nhận ra, cái gọi tác giả là một trong vô
số ý niệm bất xác của nhận thức nhằm xác định thế giới. Những gì
thuộc giới hạn tri kiến là mang tính cộng đồng, có thể nói vậy.
Khẳng định Anhxtanh là tác giả thuyết tương đối cũng như việc khẳng
định ánh sáng là tác giả. Sự xác định tác giả là có nghĩa khi
nền tảng hiện tượng tác phẩm là hư vô. Cái còn lại, mọi khẳng định
tác giả khác chỉ là việc định vị, định danh cho một giới hạn nào
đó của nhận thức cho hiện tượng. Cũng thể nói rằng, theo quan điểm
này tác giả duy nhất là Đấng Sáng tạo, nếu có.
Sự phủ nhận tác giả trong trường hợp
này, tức tác giả cuốn sách, còn được soi sáng trên phương diện sau.
Theo khả năng nhận thức sẽ có những tiến trình nhận thức khác nhau
về thế giới. Đây là một trong những tiến trình nhận thức có thể
đối với ý thức. Sự xác thực của nó biểu hiện ở chỗ những tiến
trình này đã và đang xảy ra, tương ứng với những người đọc cụ thể
nào đó. Nó có thể chấm dứt nửa chừng hoặc đến dòng chữ cuối cùng
của cuốn sách. Vì ý thức quyết định chính những điều ấy, tức các
tiến trình nhận thức, có thể xem tác giả là ý thức người viết khi
viết, hoặc là ý thức người đọc khi đọc. Ta không thể khẳng định cá
nhân Niutơn là tác giả sự kiện hấp dẫn. Ý nghĩa cá nhân Niutơn chỉ
xác định ở chỗ là người biểu diễn sự kiện qua định luật hấp dẫn.
Cái gọi tác giả định luật phải được
xem là bản thân sự kiện. Lại nữa, sẽ có nhiều sự kiện hấp
dẫn nên không thể cố định sự kiện nào đó xem như tác giả duy nhất.
Tương tự, sẽ có nhiều tác giả cho
nhiều tiến trình nhận thức. Ở đây ta đã hình dung vẫn cùng số ý
niệm, ngôn từ trong cuốn sách nhưng có nhiều tiến trình nhận thức
khác nhau. Sự đồng nhất người viết, người đọc chỉ thể xảy ra khi hai
tiến trình nhận thức là như nhau. Nói theo kinh nghiệm thông thường là
sự nhập thân, hoặc tái sinh giữa người này và người kia. Đây là một
khoảnh khắc cần được khai phá…
Điều khẳng định là, sự đồng hóa cuốn
sách với tác giả là vô nghĩa. Nếu như điều này còn lại cho đến
dòng chữ cuối cùng, mục đích cuốn sách là chưa đạt được. Cho đối
tượng là người đọc, cần thiết từ bỏ sự đồng hóa nếu cần đến sự
chứng thực.
Ta đã phủ nhận cái gọi tác giả theo nhiều hướng khác nhau
trong những trường hợp khác nhau. Tuy nhiên việc sử dụng nó vẫn còn
lại trong một số trường hợp cần thiết sự chỉ trỏ. Tức rằng, “ta”,
“tôi” vẫn còn lại. Điều này như đã xác định, những hướng dẫn từ
ngôn từ cũ là không thể tránh khỏi. Hình dung các xác định có thể,
và thường là giới hạn theo những ý niệm từng có, cần loại trừ
những trường hợp sau. Sự đồng nhất cái Ta như một nhân xưng, cụ thể
là người viết. Sự đồng nhất cái Ta với người đọc. Sự hình dung cái
Ta như một nhân vị. Sự đồng quy cái Ta với các ý niệm từng có như
Đạo, Tuyệt đối, Toàn thể… Sự xác định nguồn gốc có tính hữu hình,
là người, vật, âm thanh, ánh sáng… là không thích ứng trong trường
hợp này. Cũng nghĩa rằng, nội dung cái Ta ở đây vượt ngoài mọi giới
hạn tri kiến, mọi xác định từng có của kinh nghiệm. Ở đây, không có
nghĩa huyền bí rằng đã có sự nhập thân, lên đồng nào đó. Cũng thể
nói rằng, tiến trình cuốn sách nhằm diễn đạt cái Ta này. Sẽ có
những diễn đạt, hình tượng về nó trong toàn thể cuốn sách. Qua đó
là những soi sáng khác nhau về phương diện, liên hệ dẫn đến đối
tượng. Một tiến trình nhận thức đạt đến nó, hoặc một ý thức chứng
nghiệm nó sẽ là sự hoàn tất cuốn sách, theo ý chí cá nhân người
viết.
Và sau hết của phần diễn đạt này, lưu ý về kết cấu cuốn
sách. Từ một nguồn sáng, ta nhận được những vật và bóng tương
ứng về phương chiều, độ đen trắng,
đậm nhạt. Thay đổi đối tượng, sẽ là những vật và bóng khác.Tuy
nhiên, nguồn sáng là không đổi trên một số đặc trưng nào đó, chẳng
hạn độ chiếu sáng. Ngược lại, việc xác định bản thân nguồn sáng có
thể tiến hành gián tiếp chỉ qua một đối tượng, vài đối tượng, hoặc
liên hệ toàn thể đối tượng. Điều này, tùy vào từng điều kiện riêng.
Sự xác định ở đây là nguồn sáng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét